biểu thuế xuất nhập khẩu 2017 | biểu thuế xnk năm 2017 mới nhất của bộ tài chính » tin tức » Đề xuất sửa đổi Biểu Thuế xuất nhập khẩu năm 2015: Nên đưa về cùng một mức thuế

Đề xuất sửa đổi Biểu Thuế xuất nhập khẩu năm 2015: Nên đưa về cùng một mức thuế

Đề xuất sửa đổi

Biểu Thuế xuất nhập khẩu năm 2015

Nên đưa về cùng một mức thuế

Để giảm tình trạng gian lận, trốn thuế, tình trạng khiếu nại kéo dài, Hải quan một số tỉnh, thành phố cho rằng, Biểu Thuế XNK áp dụng cho năm 2015 cần có sự điều chỉnh về mã số và mức thuế một số nhóm mặt hàng…

Đề xuất điều chỉnh thuế một số nhóm hàng

Theo Cục Hải quan Đồng Nai, Biểu Thuế XNK áp dụng cho năm 2015 cần điều chỉnh tăng thuế suất thuế XK đối với mặt hàng dăm gỗ mã HS 4401.21.00 và 4401.21.00 từ 0% lên 3% để nhằm đảm bảo nguồn gỗ nguyên liệu này đang ngày càng khan hiếm, đồng thời có nguồn nguyên liệu cung ứng cho nghành công nghiệp giấy và chế biến gỗ trong nước.

Theo Hải quan Đồng Nai, mặc dù lượng XK dăm gỗ này đem lại nguồn ngoại tệ và tháo gõ khó khăn về nhu cầu tiêu thụ sản phẩm rừng trồng, nhưng ngược lại, điều này đã khiến cho các nhà máy giấy trong nước gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn nguyên liệu gỗ để sản xuất bột giấy.

Bên cạnh đó, Hải quan Đồng nai cũng kiến nghị tăng thuế suất sản phẩm sắt thép các loại thuộc mã số 7326.90.99 từ 0% lên 10%. Bởi đây là mặt hàng sắt thép không có định danh cụ thể, dễ bị DN lợi dụng phân loại vào mã số thuế này để gian lận.

Cùng có kiến nghị sửa đổi mức thuế, Cục Hải quan Hải Phòng đã liệt kê một loạt các mặt hàng có chung đặc điểm với mặt hàng khác, dễ gây nhầm lẫn nhưng lại có mức thuế suất khác nhau.

Cụ thể, mặt hàng đá cẩm thạch, mã HS 6802.91.10 có mức thuế NK 10%, dễ nhầm lẫn với mặt hàng cùng nhóm có mã số 6802.21.00, có thuế suất thuế NK là 12%. Vì vậy, cần sửa mức thuế mặt hàng đá cẩm thạch, mã HS 6802.91.10 thành 12%.

Hoặc mặt hàng thanh và que thép không gỉ được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều, mã HS 7221.00.00, thuế suất thuế NK 0%, có đặc tính dễ nhầm lẫn với mặt hàng thép có mã số 7223.00.00, có thuế suất thuế NK là 10%. Vì vậy, cần sửa mức thuế mặt hàng thanh và que thép không gỉ được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều, mã HS 7221.00.00 lến 10%.

Cùng với đó là mặt hàng cáp thép dự ứng lực, mã HS: 7312.10.91, thuế suất thuế NK 3% rất khó phân biệt với mặt hàng có cùng đặc điểm mã  HS: 7312.90.00, thuế suất thuế NK 5%. Vì vậy, cần sửa mức thuế mặt hàng cáp thép dự ứng lực mã HS: 7312.10.91 lên 5%.

Đối với mặt hàng cần khoan và ống nối có ren trong và ống nối có ren ngoài dùng để khoan, mã HS 7304.31.10, thuế suất thuế NK 5%, Hải quan Hải Phòng đề nghị sửa mức thuế suất mặt hàng này về 0% bởi dễ nhầm lẫn với mặt hàng có mã HS 7304.51.10, thuế suất thuế NK 0%.

Nên đưa về cùng một mức thuế

Trong quá trình áp dụng Biểu Thuế XNK, theo phản ánh của các đơn vị hải quan địa phương, có những mặt hàng rất dễ nhầm lẫn trong việc phân loại, bởi những tiêu chí phân loại, và mức thuế suất lại căn cứ vào mục đích sử dụng của hàng hóa… nên rất khó xác định khi DN NK hàng hóa. Vì vậy, những mặt hàng này cần đưa về cùng chung một mức thuế suất.

Phân tích cụ thể, Hải quan Hải Phòng cho biết, mặt hàng đồ nội thất NK có những mức thuế chênh lệch khác nhau, nhưng lại được phân loại theo mục đích sử dụng: Đồ nội thất bằng kim loại được sử dụng trong văn phòng, mã HS 9403.10.00, thuế suất NK 20%; Loại khác, mã HS 9403.20.90, thuế suất 10%; Đồ nội thất bằng gỗ được sử dụng trong văn phòng, mã HS: 9403.30.00, thuế suất NK 20%… những mặt hàng này cần đưa về chung 1 mức thuế.

Bên cạnh đó là mặt hàng bàn là điện, nếu là loại được thiết kế sử dụng hơi nước từ hệ thống nồi hơi công nghiệp, mã HS 8516.40.10, thuế suất NK 20%, trong khi đó bàn là điện loại khác, mã HS 8516.40.90 lại có thuế suất NK 25%. Theo Hải quan Hải Phòng, chú giải HS không giải thích rõ hơi nước này phải có tác dụng làm phẳng quần áo hay chỉ để làm ẩm, giúp cho việc là phẳng được dễ dàng. Do vậy, với những loại bàn là có thiết kế sử dụng hơi nước từ hệ thống nồi hơi công nghiệp, nhưng hơi nước này không có tác dụng làm phẳng quần áo (chỉ để làm ẩm, giúp cho việc là phẳng được dễ dàng và không bị cháy) có được phân loại vào mã HS 8516.40.10, thuế suất NK 20% hay không.

Theo Hải quan Hải Phòng, cần phải đưa hai mã này về cùng một mức thuế suất NK để tránh tình trạng gian lận.

Cục Hải quan Đồng Nai cũng đề nghị, đối với mặt hàng thép cốt bê-tông sắt, thép không hợp kim thuộc nhóm 7213 đến nhóm 7215 có mức thuế chênh lệch rất lớn từ 0% đến 20%, trong khi đó cơ quan Hải quan rất khó có thể xác định mặt hàng có thể dùng để làm thép cốt bê-tông hoặc dùng cho mục đích khác. Vì vậy, việc áp thuế mặt hàng này không nên dựa vào mục đích sử dụng của hàng hóa mà nên phân loại, áp thuế theo phi thép là phù hợp.

Theo báo hải quan

, biểu thuế, xuất nhập khẩu